Nên nghe Album nào để thử bộ dàn âm thanh của bạn? Sau đây là 25 Album chuẩn Audiophile cùng cách chọn nghe bản nào để Test

Anh em chơi nhạc số chắc ai cũng từng rơi vào tình huống khi mua về một bộ DAC mới, hoặc đổi từ đầu phát cũ sang một chiếc Music Streamer khác, rồi mở đại một bài quen tai và tự hỏi không biết nó hay hơn thật hay chỉ là cảm giác. Vinhstudio đã gặp tình huống này rất nhiều, và câu trả lời gần như luôn nằm ở chỗ anh em đang dùng bản nhạc nào để thử, bản nhạc nào có chất liệu để thử các mức độ khác nhau cho bộ dàn âm thanh của Anh em.
Vinhstudio thường khuyên anh em bắt đầu từ giọng hát là vì tai người nhạy với tiếng người hơn bất kỳ nhạc cụ nào. Một cây Guitar lệch đi một chút rất khó nhận ra, nhưng giọng ca mà bị gắt, bị mỏng hay bị mất hơi thở thì ai cũng có thể phát hiện được. Vì vậy một Album CD có giọng hát được thu âm chuẩn chính là chiếc thước đo hiệu quả nhất cho các bộ giải mã DAC, đầu phát nhạc số và Streaming Transport.
Mới đây tạp chí Headphonesty đã tổng hợp danh sách 25 Album mà cộng đồng người chơi âm thanh bình chọn là những đĩa CD cho thấy dàn nghe có xử lý giọng hát đúng hay không. Vinhstudio lấy danh sách đó làm khung, giữ nguyên thứ tự theo số phiếu, rồi viết lại theo cách nghe của dân chơi nhạc số Lossless để anh em dùng được ngay khi Test thiết bị.
Trước khi vào danh sách, em muốn nói vài điều về cách nghe, vì nhiều anh em chọn đúng Album nhưng test sai cách nên kết luận cũng lệch theo. Điều đầu tiên là nên dùng file nhạc số lossless như FLAC hoặc file Rip từ đĩa CD gốc, và phải cùng một bản Master khi so sánh 2 thiết bị. Cùng một tên Album nhưng bản Remaster khác nhau có thể nghe khác nhau rất nhiều.
Điều thứ 2 là chỉ đổi một khâu mỗi lần. Nếu anh em vừa đổi DAC vừa đổi nguồn phát vừa bật thêm tính năng căn chỉnh âm phòng nghe thì không biết sự khác biệt đến từ đâu. Các tính năng như EQ hay hiệu chỉnh âm phòng nên tắt khi so sánh, chỉnh âm lượng cho bằng nhau, rồi nghe đi nghe lại cùng một đoạn khoảng 30 giây. Một đoạn ngắn nghe nhiều lần cho kết quả đáng tin hơn nhiều so với nghe lướt cả Album.
Thứ tự dưới đây theo số phiếu bình chọn của người chơi âm thanh trong bài của Headphonesty. Phần nhận xét về cách nghe là em diễn đạt lại theo kinh nghiệm Test thiết bị.

Đây là Album đứng đầu với khoảng cách khá xa. Giọng Diana Krall trầm, nhiều hơi thở, nên rất hợp để xem DAC có giữ được chi tiết nhỏ và độ dày ở âm ngực hay không.
Bài A Case of You chỉ có giọng hát và cây Piano nên không có gì để thiết bị che giấu.

Giọng Norah Jones được thu khô, đặt sát phía trước và gần như không có hồi âm để che đi hạt nhiễu. Bộ DAC hay Streamer nào có chút gắt hoặc chút hạt ở dải trung sẽ lộ ra rất nhanh trên Album này.
Ca khúc thử: Don't Know Why. Kiểm tra giọng hát mộc, độ mịn và chi tiết hơi thở.

Giọng Sade mềm và được đặt lùi lại trong một bản phối Pop khá dày. Bài Test ở đây giữ được sự mượt mà của giọng hát mà vẫn nghe rõ từng lớp nhạc cụ xung quanh, không bị dàn nhạc nuốt mất giọng.
Ca khúc thử: Smooth Operator. Kiểm tra vị trí giọng hát lùi sâu và độ ổn định của âm hình.

Một đêm thu trực tiếp ở câu lạc bộ, khi ca sĩ đang bị cảm nên giọng có độ khàn rất riêng. Bài Autumn Leaves cho anh em kiểm tra xem thiết bị có truyền tải độ khàn đó một cách trung thực không, không làm mịn đi mà cũng không biến nó thành gắt.
Ca khúc này kiểm tra độ thật của chất giọng, độ khàn và âm ngân.

Bài Fast Car là phép thử về độ ổn định cao độ khi tiếng Bass và Trống vào. Nếu Loa hay Ampli bị quá tải thì giọng Tracy Chapman sẽ hơi chao nhẹ về cao độ, một lỗi nhỏ mà tai quen sẽ nhận ra ngay.
Ca khúc thử: Fast Car và Behind the Wall. Kiểm tra độ dày giọng trung trầm và khả năng giữ giọng sạch khi Bass hoạt động.

Một Trio Jazz tối giản nên giọng hát gần như đứng một mình trước vài nhạc cụ. Rất hợp để nghe độ tách lớp giữa giọng hát, Bass và Piano, cũng như độ sạch của nền nhạc.
Ca khúc thử: I Can See Clearly Now. Kiểm tra tiếng xì, thân giọng và độ tách bạch giữa giọng hát, Piano, Bass.

Album này nổi tiếng về không gian sân khấu, nhưng lớp giọng bè và hiệu ứng bay quanh cũng là bài Test tốt. Đoạn kèn Saxophone trong bài Money nên nằm rõ ràng phía trước, còn các giọng bè trôi nhẹ xung quanh mà không bị dính vào nhau.
Ca khúc thử: The Great Gig in the Sky. Kiểm tra dải động của giọng hát và khả năng giữ âm cao không chói gắt.

Một giọng hát nhẹ có chút không khí phòng thu bao quanh. Bài Spanish Harlem là bài quen thuộc trong các buổi Demo vì chữ S ở đầu câu rất dễ bị gắt, đồng thời giọng phải đứng chính giữa với cây Guitar lệch nhẹ sang phải.
Ca khúc thử: Spanish Harlem. Kiểm tra âm hình trung tâm, không gian phòng thu và độ thoáng.

Giọng Kate Bush ở Album này đã trầm và dày hơn so với thời trẻ, hát cùng cây Piano. Khi bản thu và thiết bị đều tốt, anh em sẽ nghe được sự điềm tĩnh trong cách cô ngồi vào đàn và hát, không có chút vội vàng nào.
Ca khúc thử: A Coral Room. Kiểm tra độ dày của giọng ở âm vực thấp, tiếng Piano và độ ngắt âm.

Chất giọng Baritone thu trực tiếp cùng một dàn nhạc Big band khoảng 20 người. Mỗi lần kèn đồng lên cao trào, giọng Sinatra vẫn phải rõ và đứng giữa. Cũng nên biết là một chút gắt trên giọng ông có sẵn trong bản thu, không phải lúc nào cũng do thiết bị.
Ca khúc thử: One for My Baby. Kiểm tra độ dày giọng nam trầm, độ rõ lời và vị trí giọng giữa dàn nhạc.

Một Album quen mặt trong các phòng demo âm thanh, giọng thấp và khói như đúng không khí quán đêm. Cũng có tranh cãi về lớp hồi âm trên Album này, nên nếu anh em nghe thấy hơi lạ thì đừng vội đổ lỗi hết cho thiết bị.
Ca khúc thử: What a Shame. Kiểm tra độ ngân, sắc thái nhỏ và cảm giác không gian 3 chiều.

Giọng Suzanne Vega nhỏ và nói chuyện, nhưng bài Men in a War xếp chồng giọng chính với chính cô và giọng bè của Shawn Colvin. Vì các giọng nữ này cùng một dải tần, bài Test là xem chúng còn tách bạch hay dồn lại thành một lớp.
Ca khúc thử: Men in a War. Kiểm tra khả năng phân biệt những lớp giọng nữ gần giống nhau.

Bài Church yêu cầu giữ Lovett ở phía trước, còn dàn hợp xướng kiểu gospel nằm riêng ở lớp phía sau. Đây là bài thử độ sâu của sân khấu bằng giọng người rất hay.
Ca khúc thử: Church. Kiểm tra độ nổi của giọng chính và các lớp bè ở phía sau.

Ronstadt hát trực tiếp cùng dàn nhạc chứ không thu chồng sau. Ở cao trào của bài What's New, thiết bị nào kém sẽ làm giọng mỏng đi hoặc bị căng ở âm cao, trong khi dàn nhạc phía sau phải giữ được độ rộng.
Ca khúc thử: What's New?. Kiểm tra độ dày giọng nữ và khả năng giữ dàn nhạc rộng phía sau ca sĩ.

Giọng Karen Carpenter ấm và gần, phù hợp để nghe độ tự nhiên của dải trung. Nếu giọng nghe cứng hoặc khô hơn bình thường thì nên xem lại khâu giải mã.
Ca khúc thử: Superstar. Kiểm tra hơi thở, âm môi, độ đầy của giọng và chi tiết nhỏ.

Một giọng hát có cá tính mạnh với nhiều sắc thái biểu cảm. Album này cho anh em xem thiết bị có truyền được những chuyển biến nhỏ trong cách luyến láy hay không.
Ca khúc thử: A Lucky Guy. Kiểm tra độ tương phản giữa tiếng thì thầm và những đoạn hát mạnh.

Một Album Progressive Rock với Keyboard và trống khá dày. Bài Test là giọng hát vẫn phải nghe rõ lời giữa một bản phối đông đúc.
Ca khúc thử: Take a Pebble và Lucky Man. Kiểm tra độ sạch của giọng nam và khả năng tách giọng khỏi Piano, Guitar.

Album được cắt thẳng ra đĩa theo kiểu direct to disc, thu trực tiếp vào cuối tháng 3 năm 1980 trên một sân khấu MGM cũ ở Culver City. Giọng hát gần như không có độ gắt, nên bài Amanda giúp anh em phân biệt tiếng xì nền là do bản thu hay do chính thiết bị phát.
Ca khúc thử: Amanda. Kiểm tra độ tự nhiên của giọng, tiếng xì và khả năng xử lý những đoạn cao trào.

Chỉ có một giọng Baritone đã già và một cây Guitar. Rất đơn giản, và chính vì đơn giản nên thiết bị không có chỗ nào để giấu lỗi.
Ca khúc thử: Delia's Gone. Kiểm tra độ nặng, độ ấm và thân âm của giọng Nam trầm cùng tiếng Guitar.

Bài Strange Fruit xếp giọng chính lên trên lớp hum của chính cô, hoàn toàn không có nhạc cụ nào giúp phân tách. Anh em sẽ nghe rõ thiết bị có giữ được 2 lớp giọng của cùng một người hay không.
Ca khúc thử: Strange Fruit. Kiểm tra sự tách lớp giữa giọng hát chính và bè ngân không nhạc đệm.

Giọng Buckley chuyển từ thì thầm sang gào thét mà không bị nén lại. Album này thử độ động của thiết bị, nghĩa là từ chỗ rất nhỏ đến chỗ rất lớn mà giọng vẫn giữ được hình dạng.
Ca khúc thử: Corpus Christi Carol. Kiểm tra giọng Nam cao, độ trong và khả năng tránh chói khi lên nốt cao.

Giọng chính nằm trong một bản phối pop rất dày. Bài Billie Jean thử độ sắc nét của phụ âm, còn những điệp khúc cuối của bài Thriller thử xem các lớp âm có bị chen chúc vào nhau không.
Ca khúc thử: Billie Jean và Thriller. Kiểm tra độ rõ lời hát, nhịp điệu và khả năng bóc tách giọng hát giữa bản phối dày.

Lisa Gerrard hát không nhạc đệm bài The Wind That Shakes the Barley trên một Album thu trong nhà thờ. Bài này thử âm sắc và độ tan của tiếng vang, nên rất hợp để nghe không gian mà thiết bị tái hiện.
Ca khúc thử: The Wind That Shakes the Barley. Kiểm tra giọng nữ trầm, độ ngân và âm vang của không gian lớn.

Giọng Baritone của Hartman và cây Saxophone Tenor của Coltrane nằm cùng một dải tần, rất dễ nhập thành một. Bài My One and Only Love cho anh em nghe xem giọng có đủ độ dày và lời có rõ, đồng thời tiếng Sax vẫn là một đường riêng. Cả 6 bản Ballad được thu trong một ngày ở phòng thu của Rudy Van Gelder.
Ca khúc thử: My One and Only Love. Kiểm tra giọng Nam trầm dày, phát âm rõ và khả năng phân biệt giọng với Saxophone Tenor.

Giọng Joni Mitchell ở Album này đã khàn và có hạt do tuổi tác, hát trước một dàn nhạc dây lớn. Hãy so bài Both Sides Now bản này với bản năm 1969 để thấy thiết bị tái hiện sự thay đổi của giọng hát qua 31 năm.
Ca khúc thử: Both Sides Now. Kiểm tra chất giọng Nữ trưởng thành, độ sần tự nhiên và sự hòa quyện với dàn nhạc lớn.
Với một bộ giải mã DAC, em thường nghe 3 thứ theo thứ tự. Đầu tiên là nền nhạc có đen và sạch không, thứ 2 là giọng có hạt hay có mùi điện tử hay không, và thứ 3 là độ tách lớp khi nhiều giọng hòa vào nhau. Các Album như Norah Jones, Suzanne Vega hay Dominique Fils-Aimé rất hợp cho khâu này.
Với một Streaming Transport thì câu chuyện hơi khác, vì thiết bị này không biến số thành tín hiệu Analog ngay mà chỉ đưa dữ liệu sạch và đúng nhịp tới DAC. Nhiều anh em chơi lâu năm cảm nhận được sự khác biệt về độ tĩnh của nền nhạc, độ chắc của nhịp và sân khấu khi thay nguồn phát. Muốn nghe cho rõ, anh em giữ nguyên DAC, chỉ đổi nguồn phát giữa máy tính và Transport, rồi mở Sinatra at the Sands, Dead Can Dance hay Johnny Cash để nghe độ thật của giọng và không gian.
Còn với DAC kiêm Streamer đây là anh em đang Test cả 2 khâu cùng lúc. Vì vậy em hay chọn thêm một vài Album nhạc số có cấu trúc dày như Thriller hay Dark Side of the Moon để xem thiết bị giữ được độ động và sân khấu khi nhạc cụ nhiều lên.

Eversolo T10 là một Streaming Transport thuần túy, bên trong không có DAC nên anh em cần một bộ giải mã rời để nghe. Hãng trang bị cho T10 bộ dao động tinh thể OCXO cùng tối ưu PLL, cổng nhận xung nhịp ngoài 10 MHz, nguồn tuyến tính dùng biến áp Toroidal riêng, cách ly điện nhiều tầng trên các đường tín hiệu số, cổng mạng 2.5G Ethernet và cả cổng quang SFP.
Nếu anh em đang phân vân giữa đời trước và đời mới thì có thể đọc bài so sánh Eversolo T10 và T8 hoặc xem thêm Eversolo T8 Streaming Transport chính hãng. Khi test T10 em gợi ý dùng Diana Krall, Johnny Cash và Dead Can Dance, vì 3 Album này đều có chỗ giọng hát đứng một mình nên dễ nghe ra độ sạch của nền.

Eversolo DMP-A8 Master Gen 2 gom cả Music Streamer, DAC và Pre-amp vào một thân máy. Theo thông tin công bố, máy dùng bộ xử lý AKM AK4191EQ kết hợp chip giải mã AK4499EX, hỗ trợ PCM đến 32 bit 768 kHz và DSD512, có đồng hồ OCXO với đầu vào xung nhịp 10 MHz. Điểm khác biệt lớn của bản Master là khay đĩa CD nạp trên, vừa phát vừa Rip được, nên anh em có thể lấy chính đĩa CD gốc của các Album trong danh sách trên để nghe so với bản Stream. Đây là cách Test rất thực tế mà em thấy nhiều anh em thích, và anh em có thể xem thêm bài review rip CD trên Eversolo DMP-A8 Master Gen 2 để biết chất lượng file Rip ra sao.

WiiM Ultra là Music Streamer kiêm Pre-amp ở phân khúc dễ tiếp cận hơn nhiều. Máy dùng chip DAC ES9038 Q2M hỗ trợ đến 32 bit 384 kHz, có màn hình cảm ứng 3,5 inch, đầu vào HDMI ARC, ngõ vào Phono, Wi-Fi 6E và Bluetooth 5.3. Với những anh em nối vào Loa Active hay Ampli có sẵn, đây là thiết bị rất hợp để bắt đầu. Em khuyên mở thử Norah Jones, Tracy Chapman và Sade trên WiiM Ultra trước, vì đây là những Album giọng rõ, dễ nghe, đủ để biết thiết bị đang xử lý dải trung tốt đến đâu.
Danh sách 25 Album này không phải kinh thánh gì ghê gớm. Vinhstudio thấy cách dùng hiệu quả nhất là anh em chọn 3 đến 5 Album mà mình thực sự thích nghe, vì nghe đi nghe lại những bài mình yêu mới giúp tai quen và nhận ra khác biệt nhỏ. Một Album thu hoàn hảo nhưng không hợp gu thì anh em cũng chẳng muốn mở lần thứ 2.
Nếu anh em thích nhạc Jazz và giọng nữ thì bắt đầu từ Diana Krall, Holly Cole Trio và Eva Cassidy. Nếu nghiêng về Pop rock thì Tracy Chapman, Sade và Thriller là bộ 3 dễ nghe ra khác biệt. Còn ai chuộng không gian và cảm giác phòng thu thì Dead Can Dance và Joni Mitchell sẽ cho thấy rõ thiết bị có làm tốt phần tiếng vang hay không.
Để anh em đỡ mất công tìm từng album rồi mới bắt đầu test, Vinhstudio đã gom sẵn một playlist trên Tidal tên là 25 Album Nhạc Số Test DAC, Music Streamer, Streaming Transport. Anh em chỉ cần bấm vào link bên dưới, thêm vào thư viện rồi phát trên chính thiết bị đang cần thử, từ Eversolo T10, DMP-A8 Master Gen 2 cho đến WiiM Ultra hay bất kỳ DAC kiêm Streamer nào có hỗ trợ Tidal Connect.
Nghe Playlist 25 Album Nhạc Số Test DAC, Music Streamer, Streaming Transport trên Tidal

Em có một lời khuyên nhỏ khi dùng playlist này. Anh em nên nghe ở chất lượng cao nhất mà gói Tidal cho phép và tắt hết các hiệu ứng như EQ hay chỉnh âm phòng, để sự khác biệt anh em nghe được đến từ chính thiết bị chứ không phải từ cài đặt. Nếu chưa có tài khoản Tidal hoặc Qobuz, anh em có thể xem dịch vụ tài khoản chính chủ giá rẻ của Vinhstudio ở phần trên, nhận về là có thể mở playlist nghe ngay.
Em gợi ý Diana Krall Live in Paris, Norah Jones Come Away with Me và Tracy Chapman. 3 Album này đều có giọng hát nổi bật, bản thu sạch, và mỗi Album thử một khía cạnh khác nhau là độ dày của giọng, độ sạch của dải trung và độ ổn định khi Bass vào.
DAC là khâu biến tín hiệu số thành tương tự nên anh em nghe âm sắc, độ sạch và tách lớp. Streaming Transport chỉ đưa dữ liệu tới DAC nên sự khác biệt thường tinh tế hơn và tập trung vào độ tĩnh của nền nhạc, độ chắc của nhịp. Khi Test Transport, hãy giữ nguyên DAC và chỉ đổi nguồn phát.
Cả 2 đều dùng được, nhưng để so sánh công bằng anh em nên dùng cùng một bản Master. Nếu có sẵn file FLAC hoặc file Rip từ đĩa CD gốc thì nên dùng nó để chắc chắn bản nhạc không đổi giữa các lần nghe.
Không bắt buộc. Một thiết bị như Eversolo DMP-A8 Master Gen 2 hay WiiM Ultra đã đủ cho phần lớn anh em. Streaming Transport rời chủ yếu dành cho những ai đã có DAC tốt và muốn nâng cấp riêng khâu nguồn phát.
Vì tai người quen với tiếng người hơn bất kỳ nhạc cụ nào, nên chỉ cần giọng hát bị gắt, mỏng hay mất hơi thở là nhận ra ngay. Nhạc không lời vẫn hữu ích để thử độ động và không gian, nhưng giọng hát là bài thử dễ cảm nhận nhất.
Không cần khó, nhưng nên dùng. Những Album như Norah Jones hay Tracy Chapman cho anh em biết thiết bị đang làm tốt phần nào và còn hạn chế ở đâu, giúp anh em quyết định có nên nâng cấp tiếp hay không.
Chỉ nên coi là tham khảo. Số phiếu cho biết Album nào được nhiều người tin dùng, nhưng điều quan trọng hơn là Album đó có hợp gu và giúp tai anh em nhận ra khác biệt hay không. Nếu Album trong danh sách mà anh em không thích nghe thì cứ chọn một đĩa khác thay thế.
Có. Kho nhạc số chuẩn Audiophile của Vinhstudio được số hóa từ đĩa CD gốc, anh em có thể ghé trải nghiệm trực tiếp để nghe thử trước khi quyết định chọn thiết bị.
Ngoài kho nhạc số rip từ CD gốc, Vinhstudio còn có dịch vụ cung cấp tài khoản nghe nhạc Tidal và Qobuz chính chủ với giá rất dễ chịu cho anh em thưởng thức. Điểm khiến dịch vụ Tidal và Qobuz của Vinhstudio được anh em đánh giá cao là bên em add sẵn các playlist nhạc chọn lọc và những bản nhạc hay theo từng thể loại lên tài khoản, nên anh em nhận tài khoản về là có thể mở nghe ngay, không phải mất công đi tìm từng album. Những album trong danh sách ở trên cũng rất dễ tìm để nghe thử trên hai nền tảng này.
Một bộ DAC hay Music Streamer tốt không chỉ nằm ở thông số, mà ở cách nó giữ được tính chính x của một giọng hát. Chọn đúng vài album để thử, nghe đúng cách và đừng vội kết luận chỉ sau năm phút, anh em sẽ thấy việc chọn thiết bị nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Để có trải nghiệm thực tế nhất trước khi quyết định, kính mời anh em ghé thăm Vinhstudio tại địa chỉ 307A Phố Bạch Mai, Hà Nội. Chúng tôi tự hào là đơn vị chuyên nghiệp lâu năm trong lĩnh vực nghe nhìn, đặc biệt là nhạc số. Tại đây, Vinhstudio luôn sẵn hàng các dòng giải mã DAC, Music Streamer, Music Server, Pre-amp, Loa và Ampli nghe nhạc để phục vụ Quý vị.
Địa chỉ: 307A Bạch Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Hotline: 0962.947.663
Facebook: facebook.com/vinhstudiohanoi
Youtube: youtube.com/@vinhstudio307bachmai