Tin tức

Bản Serenade Schubert Và Câu Chuyện Đằng Sau Tập Ca Khúc Cuối Cùng

Ngày đăng: 10/08/2026 21:05

Schubert Và Schwanengesang - Khi Những Nốt Nhạc Cuối Cùng Trở Thành Kiệt Tác

Năm 1828, Schubert qua đời khi mới vỏn vẹn 31 tuổi. Ông ra đi nhanh đến mức nhiều bản thảo âm nhạc còn nằm ngổn ngang trên bàn làm việc, rất nhiều bản nhạc đã hoàn thành nhưng có vẻ như chưa kịp gom lại thành các tập hoàn chỉnh. Vài tháng sau một nhà xuất bản ở Vienna có tên Tobias Haslinger gom được 14 bài hát cuối cùng mà Schubert viết trong những tháng ngày cận kề cái chết. Nhận thấy đây là những di sản vô giá, Haslinger đã ghép chúng lại thành một tập nhạc và đặt cho nó cái tên đậm chất huyền thoại: Schwanengesang (Tiếng hát thiên nga).

 

Schwanengesang

 

Tên này xuất phát từ một niềm tin cổ xưa của người phương Tây, loài Thiên nga vốn dĩ cả đời gần như im lặng nhưng ngay trước khoảnh khắc giã từ cuộc sống, chúng sẽ cất lên một tiếng hát duy nhất, tiếng hát đẹp đẽ, trong trẻo và ám ảnh nhất. Schwanengesang không phải một câu chuyện liền mạch có đầu có cuối như Winterreise hay Die schöne Müllerin, mà là tập hợp những mảnh ghép cảm xúc độc lập nhưng chung một mẫu số đó là độ chín nhất trong tài năng sáng tác của Schubert ngay trước khi ông qua đời. 

Trong số 14 ca khúc ấy, có một bài hát mà dù bạn không phải "fan cứng" của nhạc cổ điển nhưng chỉ cần giai điệu vang lên chắc chắn bạn sẽ thấy quen thuộc. Ở Việt Nam qua nhiều thế hệ yêu nhạc bài hát này đã trở nên vô cùng thân thuộc với cái tên tiếng Pháp: Serenade Schubert.

Hoàn cảnh ra đời của Ständchen gắn liền với những ngày hè năm 1827. Schubert viết bài này dựa trên những vần thơ của Ludwig Rellstab. Khác với vẻ u uất của Winterreise, Ständchen (Dạ khúc dưới cửa sổ), trong tiếng Đức Ständ bắt nguồn từ "stehen" là đứng, đây là 1 bản Dạ khúc mô tả một chàng trai đứng dưới cửa sổ nhà người mình yêu trong đêm tĩnh lặng, vừa gảy Guitar vừa hát để bày tỏ tình cảm chân thành, tha thiết.

Lý do khiến Ständchen trở nên nổi tiếng phủ sóng khắp thế giới nằm ở tài năng thiên bẩm của Schubert trong cách tạo nên giai điệu. Phần đệm Piano ngay từ đầu đã nhịp nhàng mô phỏng tiếng gảy dây đàn Guitar (pizzicato), tạo nên một không gian đêm hè êm đềm nhưng có chút gì đó thổn thức. Giai điệu giọng thứ mở đầu nghe vừa mượt mà, vừa có chút e ấp, để rồi khi chuyển sang giọng trưởng ở đoạn sau, âm nhạc như bừng sáng lên niềm hy vọng. Nó đẹp một cách tự nhiên, không đánh đố người nghe, chạm thẳng vào trái tim của bất kỳ ai từng biết yêu và biết đợi chờ.

Thế nhưng Schwanengesang không chỉ có Ständchen. 14 bài hát trong tập nhạc này thực chất được chia làm 3 nhóm dựa trên 3 nhà thơ mà Schubert đã chọn lời, tạo nên những mảng màu cảm xúc rất đa dạng.

Ở 7 bài đầu tiên phổ thơ Ludwig Rellstab bên cạnh bản Ständchen quen thuộc, người nghe còn bắt gặp một Liebesbotschaft (Thông điệp tình yêu) tràn đầy sức sống với tiếng Piano róc rách như dòng suối, hay một Kriegers Ahnung (Linh cảm người chiến sĩ) nặng trĩu những âu lo của người lính trước giờ ra trận.

Sang đến 6 bài tiếp theo phổ thơ Heinrich Heine, âm nhạc của Schubert bước lên một tầm cao mới về mặt kịch tính nội tâm. Ông thể hiện trọn vẹn sự cay đắng, mỉa mai và cô độc trong thơ Heine. Rõ nhất là ở Der Doppelgänger (Kẻ song sinh) là một bài hát ngắn gọn, tối giản nhưng ám ảnh đến rợn người khi nhân vật bắt gặp chính cái bóng của mình đang đứng khóc trước nhà người yêu cũ, hay bài Atlas vẽ nên hình ảnh gã khổng lồ đang gánh trên vai cả thế giới nỗi đau.

Tập nhạc khép lại bằng Die Taubenpost (Lá thư chim câu) bài hát dựa trên thơ của Johann Gabriel Seidl và cũng là ca khúc cuối cùng Schubert viết trước khi qua đời. Lạ kỳ thay, thay vì u uất, bài hát này lại mang giai điệu nhẹ nhàng và ấm áp, tựa như một nụ cười mỉm thanh thản mà Schubert gửi lại để chào tạm biệt cuộc đời.

Để thưởng thức Schwanengesang một cách trọn vẹn và đúng tầm nhất, bản thu âm của giọng Bariton Dietrich Fischer Dieskau kết hợp cùng nghệ sĩ Piano Alfred Brendel (bản thu của hãng Philips/Decca) nằm trong danh sách "phải nghe" của giới yêu nhạc cổ điển.

Rất nhiều nhà phê bình âm nhạc quốc tế trên tạp chí Gramophone hay BBC Music Magazine khi đánh giá về bản thu này đều phải thừa nhận Fischer Dieskau ở giai đoạn chín nồng của sự nghiệp đã xử lý tập nhạc này với một sự thấu hiểu tuyệt đối. Giọng hát của ông giữ được sự ấm áp, mượt mà ở Ständchen, nhưng ngay lập tức có thể chuyển sang chất giọng xám xịt, run rẩy và đầy sức nặng kịch tính trong Der Doppelgänger. Ông không hát để khoe kỹ thuật, mà phát âm từng từ tiếng Đức rõ ràng đến mức người nghe cảm nhận được từng tiếng thở dài hay nỗi nghẹn ngào ẩn sau lời ca.

Trong khi đó Alfred Brendel ở phần Piano lại mang đến một đẳng cấp hoàn toàn tương xứng. Brendel không coi mình là người đệm Piano đơn thuần. Tiếng đàn của ông có độ nảy sắc nét, kiểm soát lực ngón tay cực kỳ tinh tế. Ở bài Ständchen ông giữ nhịp gảy Guitar rất đều và êm, làm nền vững chắc cho giọng hát bay lên. Nhưng sang đến Der Doppelgänger những hợp âm trầm, nặng và ngân dài của ông tạo ra một bầu không khí tĩnh lặng đến mức rợn người. Sự ăn ý giữa Fischer Dieskau và Brendel giống như 2 người bạn tri kỷ đang cùng suy ngẫm về những nốt nhạc cuối cùng của một thiên tài. 

Schwanengesang không phải là một tập nhạc được sắp xếp bài bản từ đầu, nhưng chính sự tình cờ của định mệnh đã biến nó thành một biểu tượng đẹp đẽ. Nó cho chúng ta thấy trọn vẹn 2 mặt trong âm nhạc của Schubert, một bên là sự ngọt ngào, trong trẻo của tình yêu tuổi trẻ, và một bên là chiều sâu thẳm của một tâm hồn đã kinh qua mọi đau thương. 

Khi bật bản thu của Fischer Dieskau và Alfred Brendel lên vào một buổi tối yên tĩnh, thả lỏng tâm trí để giai điệu Ständchen vang lên, bạn sẽ hiểu vì sao suốt gần 2 thế kỷ qua, tiếng hát Thiên nga của Schubert vẫn chưa bao giờ ngừng chạm đến trái tim nhân loại. 

Nghe thử bản Ständchen (Serenade Schubert) trong Album CD Schwanengesang, D. 957 của Dietrich Fischer-Dieskau -và Alfred Brendel, bản thu của Decca

Theo Vinhstudio! 

Đối tác cung cấp

  • KEF
  • Devialet
  • Dynaudio
  • Marantz
  • Chord
  • Pioneer
  • Aurender DAC
  • Tannoy
  • Klipsch
  • Denon